THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG SÁCH LẬT

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

TÌM HIỂU THÍ NGHIỆM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Menu chức năng 22

    Menu chức năng 23

    Ảnh ngẫu nhiên

    IMG_2088.JPG IMG_2208.jpg IMG_8232.jpg QR.jpg DIA_CHI_TRUY_CAP_SACH_DIEN_TU.jpg IMG_8593.jpg IMG_8596.jpg IMG_8594.jpg IMG_8639.JPG IMG_8565.jpg IMG_8571.jpg IMG_8270.JPG IMG_8641.jpg IMG_8652.jpg Z5414220161618_86eec02c9b29d65abaee2072fcdf83aa.jpg IMG_0550.jpg Z5381086308901_d3199f7780f99946d2dee5ef3933fadd.jpg IMG_0701.JPG IMG_0585.JPG IMG_0595.jpg

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Tắt Đèn

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Đàm Thị Dung
    Ngày gửi: 09h:27' 23-12-2025
    Dung lượng: 430.9 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Tắt Đèn
    Tác giả: Ngô Tất Tố
    Edit epub: MimoBile Team
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    CHƯƠNG 1

    Bắt đầu từ gà gáy một tiếng, trâu bò lục-tục kéo thợ cầy đến đoạn đường
    phía trong điếm tuần.
    Mọi ngày, giờ ấy, những con-vật này cũng như những người cổ cầy, vai bừa
    kia, đã lần-lượt đi mò ra ruộng làm việc cho chủ. Hôm nay, vì cổng làng
    chưa mở, chúng phải chia quãng đứng rải-rác ở hai vệ đường, giống như một
    lũ phu vờ chờ đón những ông quan lớn.
    Dưới bóng tối của rặng tre um-tùm, tiếng trâu thở hì-hò, tiếng bò đập đuôi
    đen- đét, sen với tiếng người khạc khúng-khắng.
    Cảnh-tượng điếm tuần thình-lình hiện ra trong ánh lửa lập-lòe của chiếc mồi
    rơm bị thổi. Cạnh giẫy sào, giáo ngả nghiêng dựng ở giáp tường, một lũ
    tuần-phu lố-nhố ngồi trên lớp chiếu quằn-quèo. Có người phì-phò thổi mồi.
    Có người ve-ve mồi thuốc và chìa tay chờ đón điếu đóm. Có người há miệng
    ngáp dài. Có người đang hai tay dụi mắt. Cũng có người gối đầu trên cái
    miệng hiệu sừng trâu, ngảnh mặt vào vách mà ngáy.
    Cái điếu cày và cái đóm lửa bị năm, sáu người chuyền tay, chiếu đi, chiếu lại
    độ vài ba vòng, ánh lửa lại tắt, trong điếm chỉ còn tiếng nói chuyện rầm-rầm.
    Gà gáy giục. Trời sáng mờ-mờ.
    Trâu bò, con đứng, con nằm, thi nhau quai hai hàm răng nhai trầu xuông và
    nhả ra những cục nước bọt to bằng cái trứng.
    Thợ cầy khắp lượt dùng bắp cầy, vai cầy làm ghế ngồi, cùng nhau bàn tán
    băng-cua về chuyện sưu thuế.
    Những con chèo-bẻo chẽo-choẹt hót trên ngọn tre, như muốn họa lại khúc ca
    réo-rắt - mà người quê vẫn gọi là khúc váy cô, cô cởí - của mấy con chàomào đậu trên cành xoan, đon- đả chào vẻ tươi đẹp của cảnh trời buổi sáng.
    Toang cổng vẫn đóng chặt. Tuần-phu lại lần lượt thổi mồi hút thuốc lào.

    - Ông Trương ơi, ông làm ơn mở cổng cho tôi đánh trâu ra đồng ạ. Mọi ngày
    bây giờ tôi đã cầy được ba sào ruộng rồi. Hôm nay, bây giờ còn nhongnhóng ở đây... Phỏng chừng từ giờ đến trưa, cầy sao cho xong cái ruộng mẫu
    hai? Thôi ông làm phúc, làm đức...
    Sau tiếng năn-nỉ của anh chàng cục-mịch, vai vác cầy, tay cầm thừng trâu,
    trương-tuần quẳng cái điếu cầy xuống đất, thở nốt khói thuốc trong miệng,
    rồi giương đôi mắt say thuốc lờ- đờ:
    - Nay chẳng xong thì mai! Ông Lý đã bảo thuế còn thiếu nhiều, không cho
    một con trâu, con bò nào ra đồng hết thảy...
    - Thưa ông, ông chủ tôi nóng tính lắm kia! Ông ấy đã dặn buổi nay tôi phải
    cầy cho xong ruộng ấy, nếu không xong, đến trưa về ăn cơm, ông ấy mắng
    như tát nước và nói như móc cơm ra... Chớ tôi có muốn vất-vả vào mình làm
    gì? Vả lại, ông Lý sai tuần đóng cổng, cốt để bắt trâu, bắt bò của người thiếu
    thuế kia chứ! Ông chủ tôi nộp thuế đủ từ hôm qua rồi, xin ông mở cổng cho
    tôi...!
    Trương-tuần nhăn mặt:
    - Tôi không phải tộc-biểu, không phải phần thu, biết điếc gì đâu ông chủ anh
    nộp thuế rồi hay chưa nộp. Bây giờ mở cổng cho anh, chốc nữa ông Lý ông
    ấy chửi cha tôi lên, anh có-nghe hộ tôi không?
    Anh chàng cục-mịch lủi-thủi đánh trâu gồng cầy lùi xuống, để nhường khu
    đất trước điếm cho người khác vác bừa và đuổi trâu lên.
    - Người ta trâu của nhà, ông chẳng cho ra thì chớ. Đây tôi, trâu thuê... đồng
    hai một buổi đáp, ông ạ. Xin ông lượng tình mà ngỏ cổng cho tôi ra đồng
    kẻo trưa quá mất rồi.
    Người ấy nói tuy thiết-tha, trương-tuần chỉ đáp lại bằng cái lắc đầu:
    - Nếu trưa quá thì bừa luôn đến chiều. Trâu thuê sợ gì!
    - Thế được thì còn gì nói truyện gì nữa! Của một đống tiền, ai để cho mình
    ốp nó đến chiều? Chỉ đến non trưa, ông chủ có trâu cho thuê đã ra tận ruộng

    tháo vai trâu mà dắt trâu về, muốn bừa thêm một nửa đường nữa cũng không
    cho, ông ạ. Thôi! Mùa làm ăn, ông nghĩ lại...!
    - Tôi chẳng nghĩ lại, nghĩ đi gì cả! Bố tôi sống lại, bảo tôi mở cổng này bây
    giờ, tôi cũng xin chịu đừng nói anh...
    Người ấy lại vác bừa, đưa trâu trở lại chỗ cũ với cái sắc mặt thìu-thịu.
    Mặt trời ngấp nghé mặt lũy, muốn nhòm vào điếm. Tuần-phiên lẻ-tẻ vác sào,
    cắp chiếu, đeo hiệu đi về. Trong điếm chỉ còn trương-tuần duỗi gối kiểu
    gọng bừa, ngồi trên chiếc chiếu điểm những tro mồi, bã điếu, đốc suất mấy
    tên đàn em ở lại canh ngày.
    Xa xa nẻo trong đình, một hồi mõ cá thật dài, tiếp luôn đến trống ngũ-liên
    nện đủ ba hồi chín tiếng.
    Như có vẻ kinh ngạc về những thứ hiệu lệnh dữ dội, mấy con trâu bò đanh
    nằm còng queo trên đường, đồng thời lóp-ngóp đứng dậy.
    - Mẹ cha chúng nó! Hôm nay vẫn chưa đóng thuế, chúng nó định để tội vạ
    cho ai? Được! Cứ bướng đi, ông mà bắt hết trâu bò bán ráo!...
    Tiếng chửi om-sòm như giục mấy chục cặp mắt ngơ-ngẩn của bọn cầy đều
    phải nghiêng về phía đình. Ông lý nách cắp cuốn sổ, một tay cầm cây gậy
    song, một tay xếch đôi ống quần móng lợn, vừa đi vừa ra phía điếm tuần vừa
    thét mắng những người chậm thuế.
    Đã năm hôm nay, nghĩa là sau khi bài-bổ trình phủ đã giao về với một chữ ý,
    Lý-trưởng Đông-xá ngày nào cũng vất-vả về thuế.
    Đầu tiên hắn còn cho mõ đi rao. Rồi đến tộc-biểu, phần thu đi hỏi. Rồi đến
    đầy-tớ của hắn đưa đầy-tớ chánh-tổng đi thúc từng người. Trong năm ngày
    nay, ngày nào cũng vậy, mõ cá, trống thúc liên hồi, hiệu ốc, hiệu sừng thổi
    inh- Ỏi. Suốt từ sáng sớm cho tới tối mịt, trong làng lúc nào cũng như đám
    đánh cướp. Bây giờ đã gần đến ngày đổ thuế, công việc càng gấp. Hôm qua
    hắn đã lên phủ, xin với ông phủ phái cho một người cai lệ và hai người lính
    cơ về làng để trừng-trị những kẻ bướng-bỉnh.
    Nhờ có cái thần-thế ấy, hắn mới chửi rỡ, thét mắng khắp làng cho oai.

    Thợ cầy và tuần-phu đều biết cái hách- dịch của ông Lý, ai nấy chỉ đáp lại
    những câu chửi chùm chửi lợp bằng sự nín im.
    Trâu, bò nhiều con vẫy tai như muốn chào một người chức-việc chăm-chỉ
    phận-sự trong khi người ấy qua trước mặt chúng.
    Bước lên sàn điếm, Lý-trưởng quăng tạch cuốn sổ xuống sàn, giơ tay chỉ vào
    mặt mấy tên đàn em:
    - Hiệu không thổi, để làm sỏ bố chúng bay à?
    Một hồi còi tu-tu đồng thời nổi lên, hiệu sừng sen với hiệu ốc theo đúng hiệu
    ốc cố theo đúng mệnh của nhất lý chi trưởng.
    Đập hai bàn chân vào nhau, rũ cho sạch bụi, rồi co chân lên ngồi vào chiếu,
    Lý-trưởng vớ luôn lấy chiếu điếu cầy và sai tuần-phủ lấy đóm, thổi lửa.
    Mấy anh thợ cày của những điền-chủ đã nộp đủ thuế, bạođạn tiến đến trước
    mặt ông Lý:
    - Thưa ông, trưa lắm rồi! Xin ông cho tuần mở cổng để chúng tôi đánh trâu
    đi cầy!...
    - Thong thả! Hãy đứng đấy! Cầy đã nóng bằng thuế của nhà nước à?
    Vừa nói, Lý-trưởng vừa giặt mồi thuốc vào điếu, hút luôn một sạp ba điếu.
    Khói thuốc theo hai lỗ mũi tuôn ra như hai ngà voi. Lý-trưởng dõngđạc:
    - Trương-tuần, anh bảo nó mở cổng ra. Nhà nào đủ thuế thì cho trâu bò ra
    đồng. Còn nhà nào thiếu thì bắt trâu bò điệu cả về đình cho tôi, để tôi liệu
    cho chúng nó!
    Sau một tiếng dạ của Trương-tuần, mấy tên đàn em loay-hoay tháo nêm, rút
    then cổng. Rồi cùng đứng doãi chân chèo, cố lấy hết sức của lực điền, xuống
    gạch vì cối cổng đã mòn nhiều quá. Lý trưởng đứng lên mở sổ sướng tên
    những người đủ thuế cho Trương-tuần nghe. Ước chừng mươi con trâu bò
    được đi với bọn thợ cầy cùng ra ngoài cổng. Còn độ hai chục con nữa đều
    phải vâng lệnh ông Lý, theo gót Trương-tuần và tuần-phu lũ-lượt kéo vài sân
    đình, chờ khi phải chịu tội thay cho chủ.

    CHƯƠNG 2

    Mõ cá trên cột đình lạ há miệng nhận những cây dùi giận dữ. Trống cái dưới
    xá đình lại lỳ mặt chịu những cái nện phũ phàng. Vừa dứt hồi vang của
    những tiếng mõ, tiếng trống bị những lũy tre ngăn cản phải lật trở lại, Lý
    trưởng liệng dùi trống xuống sân đình và quát một cách a dáng ra phết:
    - Từ sáng đến giờ vẫn chưa đem chiếu ra trải, thì cha nó ngồi vào đâu? À cái
    thằng Mới láo thật! Xong thuế rồi ông tống cổ...
    Mẹ Mới ở phía sau đình lếch thếch ôm mấy chiếc chiếu đặt lên sàn đình:
    - Bẩm ông hôm qua ông dặn bố nó nhà con sáng nay phải đi chợ sớm...
    - Trải ra! Rồi đi gọi các ông phần việc đến đây... Kệnh dệnh, kệnh dệnh! Bố
    người ta đấy mà hôm nào cũng bắt người ta phải mời... Chẳng qua việc là
    việc làng, chứ việc riêng nhà ai!.. Ngày mai mà không đủ thuế, thì ông khai
    hết ra cho, thử xem thằng nào ngồi tù?
    Đằng sau có tiếng léo xéo:
    - Làm gì mà gắt gỏng dữ thế ông Lý? Bà cháu bận đi mang cơm thợ cầy, tôi
    phải nấu chín nồi cám cho con lợn sề nó ăn. Vì nó mới đẻ, sợ bỏ đói thì nó
    mất sữa, rồi con nó xấu. Bởi thế tôi mới chậm ra một chút, chứ có kệnh dệnh
    gì đâu?
    Những câu phân trần tha thiết kéo dài từ ngoài đường vào đến giọt đình. Thủ
    quỹ nhanh nhảu bước lên thềm đình với cái tráp sơn đen bệ vệ nấp ở sườn
    tay phải. Lý trưởng vội vàng nói chữa:
    - Tôi nói là nói người khác kia! Chứ ông... nhà neo, lắm việc, tôi có trách gì
    ông đâu... Kìa các ông ấy đã ra cả kìa!
    Chưởng bạ Ôm ống sổ và một tập sổ đi đầu một bọn độ hơn mười người:
    Thư ký lồng khăn xếp vào cánh tay, Phó lý quần áo thâm trên cổ. Chánh hội
    vắt áo the bên vai, năm sáu ông kỳ cựu và tộc biểu lệt xệt kéo đôi guốc gỗ đã

    mòn hết gót. Cả bọn lật đật tiến từ xóm giữa vào đình. Ai nấy trụt guốc cầm
    tay, nhảy lên sàn đình, đút guốc vào dưới gậm chiếu rồi ngồi lên trên.
    Con vợ thằng Mới cung kính đệ len bên cạnh cột đình một cái điếu đàn đựng
    trong một chiếc bát gỗ đánh đai bằng lạt và cái mồi rơm dài chừng một sải.
    Hai đứa con nó kỳ kệch khiêng lên chỗ đó nồi nước chè khô mới nấu, khói
    đương bốc lên nghi ngút và chồng bát đàn sơn bằng những cáu nước chè.
    Chánh hội vừa khơi mào nói về chuyện thuế thì người nhà Lý trưởng lễ mễ
    bưng một bộ khay đèn thuốc phiện rước Chánh tổng từ nẻo xóm dưới đi lên.
    Ông cai lệ và hai ông lính cơ hộ tống cụ Chánh vào trước cửa đình. trong
    đám đông mỗi người một câu:
    - Cụ đã ra!
    - Lạy cụ.
    - Xin mời cụ lên trên.
    Chánh tổng khoan thai bỏ giầy, bước qua một giẫy chiếu dưới, để lại mặt
    chiếu hai hàng dấu chân đầy cát bụi, rồi vắt vẻo ngồi lên chiếc chiếu trên
    cùng. Bộ khay đèn tự tay người nhà Lý trưởng sang tay cai lệ, lên nằm làm
    bạn với quan trong hàng tổng.
    Ngay từ sáng sớm, cụ Chánh đã có điểm tâm độ vài chục điếu ở nhà Lý
    trưởng, cho nên cụ rất tỉnh táo. Nghiêm nghị, cụ lên giọng kẻ cả:
    - Các ông chức việc làng này thật lười quá. Hôm nay mà thuế còn thiếu be
    thiếu bét, chưa thu được một nửa bài chỉ! Tôi hạn từ giờ đến tối phải thu cho
    đủ. Nếu không đủ, sáng mai tôi phải trình quan.
    Lý trưởng đón:
    - Vâng! Xin cụ thúc giục đi cho! Chứ mấy hôm nay các ông ấy cứ ỳ ra đó,
    chẳng ông nào chịu ra miệng ra tiếng.. thì phỏng ai nó nộp cho?
    Mọi người đều im lặng. Không phải sợ câu dọa nạt của Chánh tổng Lý
    trưởng, họ còn mãi nhìn ra cổng đình.
    Thằng Mới kĩu kịt trên vai chiếc đòn gánh treo hai chiếc quang. Giằng trước

    là một xanh vừa gan vừa phổi, vừa tiết để trên rỗ lòng. Đằng sau thì một
    thúng thịt lợn.
    Lững thững ở ngoài tiến vào, nó đặt quang gánh xuống sân đình, và mời ông
    Lý ra xem.
    - Bẩm ông, hôm nay thịt đắt, tất cả hết sáu đồng rưỡi.
    Ông Chánh hội, ông thủ quỹ và nhiều ông khác cùng đổ xô ra. Ai nấy đều
    biểu môi chê đắt, Chánh tổng nằm trong giữa đình nói ra:
    - Đắt với rẽ chẳng qua cũng của mấy đứa phụ canh, các ông có mất gì đâu!
    Thôi để cho nó đem về làm đi, trưa lắm rồi!
    Thằng Mới mừng rỡ lại cất quang gánh lên vai. Lý trưởng dặn theo:
    - Phải đánh mỗi mâm một bát tiết canh, mày nhé!
    Rồi mọi người cùng lên sàn đình, bắt đầu nhúng tay vào việc.
    Lý trưởng quăng cuốn sổ điền ra chiếu và bảo thư ký:
    - Ông đọc cho các ông kia tính, xem rằng chủ nào bao nhiêu... rồi biên ghi
    vào mảnh giấy. Tính những chủ chưa nộp đồng nào ấy thôi.
    Thủ quỹ mở tráp lấy ra cái bàn tính, cái bút chì và một tờ giấy tây, rồi đưa
    bàn tính cho ông Lý cựu:
    - Ông tính ta, tôi tính tây, rồi cùng kháp lại, hễ hai đằng mà không sai nhau
    là đúng.
    Một người đàn bà rón rén bước vào sàn đình với một chuỗi tiền chinh trong
    tay:
    - Lạy cụ Chánh, lại các cụ a...
    Bên bàn đèn, một cậu lính cơ ngẩng cổ lên quát:
    - Làm gì mà đến hôm nay mới đem nộp thuế? Lại còn vác những khải định
    ra đấy! Ai lấy cho?
    Lý trưởng gạt đi:

    - Người nhà tôi đấy... các ông tính giùm, xem của bà ấy có bao nhiêu ruộng
    tất cả.
    Thư ký giở sổ đọc:
    - Nguyễn Thị Qúi điền dĩ hạ: nhất sở Đồng Bắc xứ bảy sào chín thước, nhất
    sở Đồng Cá xứ sáu sào ba thước hai thốn...
    Lý cựu vừa gẫy con toán lách tách vừa nhẩm:
    - Nhất ngũ như ngũ, nhị ngũ nhất thập chi, tam ngũ nhất thập ngũ...
    Thủ quỹ chăm chỉ để hai con mắt vào mảnh giấy tây dưới ngọn bút chì. Một
    hồi sau, Thư ký đọc hết, Lý cựu hỏi:
    - Có phải ba mẫu bốn sào năm thước ba thốn hay không?
    Thủ quỹ đáp:
    - Không biết. Bây giờ tôi mới tính. Cộng bằng tính tây vẫn chậm hơn tính tạ
    Ông biết thế.
    Thị Qúi nói theo:
    - Vâng, ông thủ tính kỹ chọ Ruộng nhà cháu có đâu mà được ba mẫu!
    Một hồi nữa, thủ quỹ hì hục với cây bút chì, rồi ngẩng đầu lên mắng Thị
    Quí:
    - Bà nói lạ! Bốn mẫu hai ruộng cả thảy, sao dám bảo không được ba mẫu!
    Thị Qúi thề sống, thề chết:
    - Cháu có ăn gian thì trời không chứng! Thật quả ruộng của nhà cháu chỉ có
    hai mẫu bẩy sào...
    Lý cựu, Thủ quỹ cùng sô lại dồn Thị Quí. Người đàn bà ấy nhất định không
    chịu. Cái bàn tính và cây bút chì phải làm việc thêm nhiều lần nữa.
    Chánh tổng sốt ruột, giục Lý trưởng:
    - Ai tính cứ tính, ai đi đốc cứ đi đốc. Chứ xúm nhau ở cả đây, thì đến tết
    cũng không thể thu xong thuế!

    Lý trưởng lấy làm phải, liền sai mấy tên gia nhân đi đưa các ông lệ, lính cơ
    đầy tớ Chánh tổng vào khắp những nhà đinh cùng và dặn:
    - Đứa nào chưa có sưu hay chưa có thuế thì cứ trối cổ nó lại và điệu ra đây,
    để tôi cho chúng một mẻ.
    Mõ lại thúc, trống lại giục, tù và lại inh ỏi thổi lên.
    Ánh nắng bứt rứt chiếu đến nửa sân đình. Mấy con trâu, bò vẫn nằm gò lưng
    dưới những gốc gạo, gốc đa, hơi thở trong cổ họng kéo ra hồng hộc.

    CHƯƠNG 3
    Nếp nhà tranh lủn củn nấp dưới rặng tre là ngà, lặng lẽ úp lấy khu đất dề
    thành và kín đáo náu trong một con xóm cuối làng Đông xá, đứng xa ngó lại,
    có thể lầm với nơi nhốt lợn hay chứa tro, đó là nhà của Nguyễn Văn Dậu.
    Với tầm cao vừa xế mặt thành, giẫy mái hiên cườm cượp nhòm ra ven thành,
    luôn luôn phạt kẻ ra vào bằng những cái cộc bươu đầu choáng óc, nếu họ
    quên không cúi đầu.
    Với lớp rêu xanh điểm những lá tre vàng úa và những cỏ gấu phất phơ, cái
    sân đất rộng bằng đường bừa, lỗ chỗ vết chân chó sen vết chân người, vừa
    làm đường đi, vừa làm khu vực hoãn xung , phòng bị những lúc mưa rào, đất
    ở chân thành khỏi lở vào thềm và cửa.
    Bao nhiêu bộ phận cần có của một gia đình, đều được thu cả vào trong nhà.
    Nhà cất theo lối kiến trúc phổ thông của các cụ, toàn thể gồm có một chái và
    hai gian.
    Gian đầu là buồng.
    Bức mành rách mép lướt thướt rủ ngoài cửa buồng, cũng như bức phên nan
    nứa sừng sững chắn ngang lòng nhà, đều hết sức giữ cho trong buồng có vẻ
    bí mật. Trái lại, những khe hở ở cạnh cửa và nhưng lỗ thủng ở chân phên lại
    cùng ra ý phô sòng, như muốn khai rằng: ngoài chiếc giường tre gẫy giát, kê
    giáp bức bụa, trong này có một chum mẻ, vại hàn, chen nhau đứng bên cạnh
    đống đất hang chuột.
    Đối với buồng, ấy là bếp đun, cảnh tượng lại càng bề bộn.
    Dưới từng máy chái thấp hẹp, những luồng ánh sáng xanh tía, thông thống
    kéo thẳng từ nóc đến nền, cố hun cho khô những chỗ đêm qua mưa dột.
    Cạnh bó củi giong ẩm ướt, đoàn vung sứt miệng hềnh hệch nằm ngửa trong
    những cái rế tre, như muốn cười với lũ mêu đất thư nhàn, lông lốc lăn
    nghiêng lăn ngửa.

    Trên bãi tro trấu tanh bành, nguội lạnh, mấy hòn gạch vỡ chầu đầu vào nhau,
    nghiêng mình nằm theo thế chân vạc, đương chờ đến lúc đội nồi.
    Kề đó đến bàn thờ.
    Chiếc ngưỡng tre uốn lưng gù gù đỡ lấy một đố tre, dõng dạc đứng ra hình
    chữ môn và hộ vệ cho một mớ nan tre lành phành long bựt, giường thờ giống
    như cái chạn đựng bát. lơ lửng gác giữa khoảng cột của bếp và buồng.
    Tờ giấy xanh lạnh lùng phủ ngoài vách đất tỏ rằng nhà mới có tang.
    Nhưng mớ mạng nhện chằng chịt quấn trên đám chân hường lơ thơ, lại làm
    chứng cho một thời gian khá lâu, chủ nhân không hề cúng lễ. Rồi ở giữa nhà,
    chiếc chiếu rách thủng xộc xệch phủ trên tấm phản long đinh.
    Rồi ở dưới phản, mấy con chó con đòi ăn, ăng ẳng kêu không dứt tiếng.
    Và ở ngoài hiên, quang, gánh, liềm, hái sen, với áo yếm, áo, váy, quần, lôi
    thôi rủ suốt mấy gian ruổi.
    Trong tay bồng đứa con gái hai tuổi, chị Dậu thơ thẩn ngồi trên chiếc chõng
    long nan. Cái nhanh nhảu của đôi mắt sắc ngọt, cái sinh sắn của cặp môi đỏ
    tươi, cái mịn màng của nước da đen giòn và cái nuột nà của người đàn bà hai
    mươi bốn tuổi, vẫn không đánh đổ những cái lo phiền buồn bã trong đáy tim.
    Nét mặt rầu rầu, chị im lặng nhìn sự ngoan ngoãn của hai đứa con nhỏ.
    Cái Tý và thằng Dần, đương hỳ hục bới đống rễ khoai, tìm những củ mập, củ
    giày, bỏ vào trong rổ. Chúng nó mừng reo hý hửng khi thấy một củ nguyên
    lành, và chúng nó cãi cọ lầu nhầu khi lục mãi chẳng được gì cả.
    Mặt trời gần đến đỉnh đầu.
    Ánh nắng xuyên qua lũy tre chiếu xuống trước thềm khoang cửa.
    Đằng sau gà gáy te te.
    Nóc bếp láng giềng ngọn khói bốc lên nghi ngút.
    Thằng Dần với bộ mặt thìu thịu, bỏ đống rễ khoai đứng dậy lùng bùng:

    - Nhặt mãi từ sáng đến giờ mới được ba mẫu khoai ranh! Con không phải tội
    mà bới nữa. U đi mua gạo mau lên! Hàng xóm nấu cơm trưa rồi, nhà ta vẫn
    chưa ăn cơm sáng! Chúng con đói quá!
    Ngó con một cách đau đớn, chị Dậu ngọt ngào:
    - Con hãy cố nhặt thêm vài chục mẫu nửa, rồi chị nó luộc cho ăn, chứ u làm
    gì có tiền đông gạo?
    Thằng bé phụng phịu:
    - Hôm qua và hôm kia u bán hai gánh khoai lang được năm hào mà... đã tiêu
    gì đâu!
    Vừa nói nó vừa tung tăng chạy đến cạnh mẹ, toan lần dải yếm của mẹ. Cái
    Tý thỏ thẻ khuyên em:
    - Tiền bán khoai còn phải để dành đóng sưu cho ông Lý chứ? Dễ được đem
    mà mua gạo đấy hẳn? Em có đói thì hãy ăn tạm củ khoai sống vậy!
    Câu nói nghĩa lý của con bé bảy tuổi, hình như có một sức mạnh thần bí,
    khiến cho chị Dậu hai hàng nước mắt chạy quanh. Uể oải, chị bế cái Tỉu lên
    sườn và lừ thừ đi ra ngoài cổng, để ngóng xem chồng đã về chưa.
    Chồng chị, - anh Nguyễn Văn Dậu - tuy mới hai mươi sáu tuổi, nhưng đã
    học nghề làm ruộng đến mười bảy năm.
    Với cái sức khỏe mạnh, với cái tính nhanh nhẩu, với cái đức chịu thương
    chịu khó trong nghề cầy thuê cuốc mướn, những năm son rỗi, vợ chồng nhà
    anh cũng vẫn kiếm được thừa ăn. Mấy năn nay phần vì thóc cao, gạo kém,
    phần thì con đẻ thêm ra, vợ bận mọn luôn, sự tiêu dùng của anh mới không
    được rồi rào như trước, vặt mũi chỉ đủ đút miệng mà thôi.
    Rồi tháng tám năm ngoái, mẹ anh bị bệnh qua đời. Lại tháng giêng năm nay,
    thằng em trai của anh cũng vì phải gió mà chết. Dầu anh hết sức tằn tiện, hai
    cái ma ấy cũng cứ lôi kéo đi mất của anh hai món là làng hết đúng sáu đồng,
    và hai cổ quan tài hết gần tám đồng. Nhà không có, anh phải quang co tần
    tảo cho có. Hai cái rớp ấy cũng đủ đưa anh lên đến bậc nhì, bậc nhất trong

    hạng cùng đinh rồi. Hơn nữa, tháng ba đến giờ thần bệnh sốt rét ở đâu kéo
    đến, nó bắt anh cứ phãi nghĩ việc nằm nhà.
    Thế là gần ba tháng trời, những sự đóng góp chi tiêu của một gia đình năm
    miệng ăn, hết thảy trông vào hai bàn tay trắng của người đàn bà con mọn.
    Sự đói rách của con và sự lầm than của vợ, đắp đổi tiến đến trước mắt, đã
    làm cho anh gan ruột nẫu nà. Thêm mấy bữa nay, Lý trưởng ngày ngày sai
    người giục thuế, anh càng luống cuống như con kiến bò trong chảo nóng,
    không biết lo liệu thế nào. Sớm ngày, cơn sốt đã tan anh phải gắng gượng
    chống gậy ra đi, cũng định vay mượn lấy một vài đồng, trả cho xong món nợ
    nhà nước. Nhưng đi thì đi, chính anh cũng không tự biết mình sè đi đến nhà
    a, và chừng bao giờ thì về.
    Mong mãi không thấy bóng chồng, chị Dậu lại bỗng cái Tỉu trở vào, ngồi
    phịch xuống chõng.
    Cái Tý vẫn loay hoay với đống rễ khoai. Thằng Dần đương ráu ráu nhai mẫu
    khoai sống.
    Bên nhà láng giềng có tiếng mâm bát lạch cạch. Mấy con nít tíu tít gọi nhau
    ăn cơm. Mùi canh rưa và mùi cá khi theo ngọn gió nồm đưa sang ngào ngạt.
    Thằng bé háu đói nuốt vội miếng khoai trong miệng, vớ tấm áo nâu toạc vạt
    khoác luôn vào mình, đon đả chạy lại vỗ vào vai mẹ:
    - Con sang chơi bên nhà ông Bác, u nhé!
    Cái Tý chừng mắt:
    - Bên ấy sắp sửa ăn cơm ấy mà...! Sang làm gì? Rồi bà Bác lại đuổi oai oái
    như hôm nọ ấy. Thôi, đói thì chịu vậy, chứ em cứ nhặt cố lấy mấy củ nữa,
    rồi chị đứng lên bắc nồi.
    Thằng Dần quăng tọt cái áo vào chõng, ngoảnh đít quay lại, trên mặt đầy vẻ
    thất vọng:
    - Khổ lắm, bao nhiêu củ ngon củ lành, u đã lựa hết đem bán, ở đây chỉ còn
    những rễ và rễ, lấy đâu ra khoai mà nhặt?

    Cái Tý lại dịu nét mặt:
    - Chả bán thì lấy tiền đâu đóng sưu?... Em hãy chịu khó nhặt đi với chị! Hãy
    còn vô khối củ mẫm ra đấy.
    - Nhưng mà em còn đói vàng cả mắt, không nhặt được nữa...!
    Nói xong, thằng Dần bước đến bên cạnh rổ khoai, chọn lấy một củ lớn nhất,
    nó chùi vào bụng cho sạch cát bụi rồi cho vào mồm cắn...
    Chị Dậu tuy vẫn ngồi im không nói, nhưng ở khóe mắt, nước mắt lại cứ chan
    chứa chảy ra. Chừng như không muốn để cho các con thấy sự đau lòng của
    mình, chị vờ ngảnh mặt nhìn vào trong vách.

    CHƯƠNG 4
    Con chó cái nằm ở gậm phản bỗng chốc vẫy đuôi rối rít, tỏ ra dáng bộ vui
    mừng.
    Anh Dậu lữ thử từ cổng tiến vào với cái vẻ mặt xanh ngắt và buồn rứt như kẻ
    sắp bị tù tội.
    Cái Tý, thằng Dần cùng vỗ tay reo:
    - A! Thầy đã về! A! Thầy đã về!...
    Mặc kệ chúng nó, anh chàng ốm yếu im lặng dựa gậy lên tấm phên cửa,
    nặng nhọc chống tay cào gối và bước lên thềm. rồi lảo đảo đi đến cạnh phản,
    anh ta lăn kềnh lên trên chiếc chiếu rách.
    Chị Dậu ôm con vào ngồi bên phản, sờ tay vào trán chồng và sẽ sàng hỏi:
    - Thế nào? Thầy em có mệt lắm không? Sao chậm về thế? Trán đã nóng lên
    đây mà!
    Anh Dậu nằm thừ không cựa, cũng không trả lời. Chị Dậu lại gặng:
    - Chắc thầy em mệt lắm thì phải? Từ sáng đến giờ đi những đâu? Hỏi vay
    của ai?
    Vắt tay lên trán, anh Dậu thở một tiếng dài và cất cái giọng lề dề của người
    ốm:
    - Tôi lên nhà lão Hội Ích.
    - Có được đồng nào hay không?
    - Chẳng được gì cả. Tôi cũng biết cái thằng già ấy nó bẩn như chó, mình đả
    mắc nợ của nó, chẳng khi nào nó lại cho mình vây thêm. Nhưng vì bí quá
    cho nên phải nhắm mắt đi liều. Quả nhiên mới cất miệng hỏi, nó đã mắng
    sấm xơi sới, rồi lại dọa rằng: Ba đồng cầm đất cầm nhà, lãi mười hai phân,
    đến tháng sáu này thì vừa hết hạn, tính thành ra năm đồng một hào sáu xụ

    Nếu không trả được nó sẽ cắm cả nhà đất để làm chuồng xí.
    Chị Dậu cau đôi lông mày:
    - Trời đất ơi! Cắm cả nhà đất để làm chuồng xí! Ăn nói như thế thì còn trời
    đất nào nữa?... Thế sao thầy em không đến ông cậu hỏi tạm lấy một đồng
    vậy?
    - Có! Tôi có hỏi! nhưng cũng chẳng ăn thua gì. Ông ấy nhiếc mãi vợ chồng
    sức dài, vai rộng mà có vài ba đồng bạc tiền sưu cũng không chạy nổi...
    Chị Dậu giậm chân xuống đất:
    - Khốn nạn! Ấy ông cậu đấy! Ông cậu giàu có nứt đổ lá vách, cả đời cháu
    mới hỏi vay mấy đồng, còn nỡ nhiếc móc như thế, trách chi người ngoài!...
    Thế bây giờ thầy em đã định hay chưa?
    Anh Dậu nín lặng một hồi, rồi lại thở dài tiếng nữa:
    - Tôi đã nói với cụ Nghị Quế ở thôn Đoài... hay là bán quách...
    Đương nói giở câu, anh Dậu ngập ngừng lại thôi, như có vật gì nghẹn ở cổ
    họng. Chị Dậu cố gắng:
    - Bán quách cái gì? Thầy em cứ nói, ở đây có ai mà sợ!
    Anh Dậu đơm dớm nước mắt:
    - Hay là bán quách cái Tý cho cụ ấy?
    Chị Dậu cũng nước mắt chảy qua gò má dòng dòng. Chị cứ cúi gầm mặt
    xuống, không biết trả lời ra sao. Cái Tý nghe thấy ru,ng rời củ khoai trong
    tay, vội vàn
     
    Gửi ý kiến